Search
Thứ Bảy 19 Tháng Tám 2017
  • :
  • :

Nguyên nhân gây xơ gan giai đoạn mạn tính

Xơ gan là bệnh lý nguy hiểm về gan cần được phát hiện và điều trị càng sớm càng tốt. Vậy xơ gan giai đoạn mạn tính là thế nào? Bài viết dưới đây sẽ đưa ra kiến thức tổng quan bệnh xơ gan giai đoạn mạn tính.

Xơ gan giai đoạn mạn tính là thế nào?

Xơ gan giai đoạn mạn tính là bệnh lý nguy hiểm về gan cần được phát hiện và điều trị càng sớm càng tốt.

Xơ gan giai đoạn mạn tính là bệnh lý nguy hiểm về gan cần được phát hiện và điều trị càng sớm càng tốt.

Xơ gan giai đoạn mạn tính là tình trạng xơ gan giai đoạn nặng, do nhiều nguyên nhân gây tổn thương gan, gan bị xơ hóa, phát triển lan rộng. Các biểu hiện cụ thể như các tế bào gan bị khuếch tán dẫn đến hoại tử, tiếp theo là xơ hóa các tế bào tái sinh và các tế bào gan bị tổn thương, ba sự thay đổi này diễn ra nhiều lần, kết quả là cấu trúc lá gan và đường lưu thông máu dần dần bị thay đổi, khiến gan bị biến dạng, cứng hơn và dẫn đến xơ gan.

Nguyên nhân gây xơ gan giai đoạn mạn tính là gì?

Trong quá trình thực hiện chức năng của mình gan tiếp xúc với nhiều chất độc hại nên rất dễ bị bệnh. Mặc dù nó có khả năng tự chữa lành các tổn thương song với xơ gan quá trình lành bệnh diễn ra rất kém. Để đáp ứng với tổn thương mạn tính, các tế bào hình sao tăng mạnh về kích thước và số lượng. Điều này dẫn đến sự hình thành quá nhiều mô sẹo cản trở khả năng hoạt động của gan.

Các nguyên nhân dẫn đến xơ gan bao gồm:

– Uống rượu quá nhiều (nam giới thường bị xơ gan nhiều hơn)

– Bị nhiễm virut viêm gan C hoặc B mạn tính

– Nguyên nhân khác như bị mắc một số bệnh di truyền hoặc phản ứng thuốc và tiếp xúc với chất độc trong môi trường.

Có rất nhiều nguyên nhân khiến gan dễ bị tổn thương lâu dài gây xơ gan.

Có rất nhiều nguyên nhân khiến gan dễ bị tổn thương lâu dài gây xơ gan.

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh xơ gan mạn tính

Ở giai đoạn đầu, xơ gan thường không có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhưng không rõ ràng, người bệnh có thể biểu hiện ở sự mệt mỏi, ăn khó tiêu, tiêu lỏng, đau nhẹ hạ sườn phải, nôn hoặc buồn nôn, có trường hợp gan và lá lách to.

Ở giai đoạn sau, khi có nhiều mô sẹo thay thế mô lành và chức năng gan suy giảm, người bệnh có thể có một số triệu chứng sau: Chán ăn, sụt cân, buồn nôn, sao mạch màu đỏ nhỏ dưới da hoặc dễ bị bầm tím, người yếu mệt mỏi, vàng da và mắt, nước tiểu sẫm màu. Nặng hơn người bệnh có thể có các triệu chứng như chảy máu từ tĩnh mạch thực quản hoặc ruột, cổ chướng, ngứa bàn tay, bàn chân và toàn cơ thể, phù cẳng chân, bàn chân do ứ dịch,..

Điều trị bệnh xơ gan giai đoạn mạn tính như thế nào?

Việc điều trị xơ gan mạn tính thường dựa trên hai nguyên tắc: điều trị theo nguyên nhân gây bệnh và điều trị các biến chứng của bệnh.

Điều trị xơ gan theo nguyên nhân gây bệnh: trước khi bắt đầu điều trị xơ gan, người bệnh sẽ được làm các xét nghiệm nhằm tìm nguyên nhân gây bệnh, từ đó có phương pháp điều trị phù hợp ứng với từng nguyên nhân đó:

Xơ gan do rượu: người bệnh cần hoàn toàn cai rượu cùng với các đồ uống kích thích khác và kết hợp với chế độ ăn uống, nghỉ ngơi điều độ.

Xơ gan do gan nhiễm mỡ: kiểm soát cân nặng và lượng cholesterol trong máu bằng cách giảm lượng hấp thu chất béo, tăng cường chất xơ và vitamin, đồng thời kết hợp với tập luyện đều đặn.

Xơ gan do viêm gan virus: sử dụng các loại thuốc kiểm soát virus kết hợp với ăn uống và nghỉ ngơi điều độ. Có thể dùng thêm một số loại thuốc giảm các triệu chứng đau hay ngứa theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị các biến chứng của xơ gan: một số biến chứng thường gặp ở giai đoạn cuối của xơ gan là cổ trướng, chảy máu tiêu hóa, nhiễm trùng, ung thư gan… Điều trị các biến chứng của xơ gan cần chú ý:

Cổ trướng: hạn chế hấp thụ natri (muối) và sử dụng thuốc để ngăn ngừa sự tích tụ chất lỏng trong cơ thể. Ngoài ra có thể cần làm chọc hút, dẫn lưu dịch thường xuyên hoặc thực hiện phẫu thuật nếu chất lỏng tích tụ quá nhiều.

Chảy máu tiêu hóa: áp lực tĩnh mạch cửa tăng lên khiến tĩnh mạch bị giãn và có thể vỡ gây chảy máu tiêu hóa. Người bệnh cần được cấp cứu kịp thời và sử dụng các loại thuốc gảm áp lực tĩnh mạch trong quá trình điều trị.

Nhiễm trùng: sử dụng thuốc kháng sinh hoặc các phương pháp điều trị các bệnh nhiễm trùng khác theo chỉ định của bác sĩ.

Ung thư gan: thực hiện xét nghiệm tầm soát ung thư định kỳ để có thể phát hiện và điều trị ung thư sớm nhất.